Viêm màng não mủ - Bệnh nguy hiểm đối với trẻ nhỏ

Viêm màng não mủ là tình trạng nhiễm khuẩn màng não do vi khuẩn gây ra. Bệnh thường xảy ra ở trẻ dưới 5 tuổi. Ở người lớn, bệnh xuất hiện chủ yếu do cơ thể bị suy giảm miễn dịch. Người là nguồn chứa vi khuẩn. 3 loại vi khuẩn gây bệnh là: Hemophilus influenzae, não mô cầu và phế cầu. Trong đó nguyên nhân chính hay gặp nhất gây viêm màng não cấp do vi khuẩn ở trẻ từ 6 tháng đến 3 tuổi là Haemophilus influenzae (hay trực khuẩn Pfeiffer). Ngoài ra có thể gặp các vi khuẩn gram âm tính như: E.Coli, Klebsiella, Pseudomonas và liên cầu nhóm B gây bệnh ở trẻ sơ sinh.

Haemophilus influenzae hay trực khuẩn Pfeiffer là một vi khuẩn gram âm, kỵ khí tùy điều kiện, đa dạng, thường sống ở mũi họng mà không gây bệnh. Có 6 týp huyết thanh vỏ (a, b, c, d, e, f). Týp huyết thanh b (Hib) là týp hay gây bệnh nhất và là nguyên nhân chủ yếu gây viêm màng não do H.influenzae. Polysaccharid của vỏ có hoạt tính chống thực bào còn nội độc tố thì tấn công tế bào niêm mạc.

Dấu hiệu nhận biết trẻ mắc viêm màng não mủ

Biểu hiện bệnh viêm màng não mủ ở trẻ trên lâm sàng thường gặp là sốt cao và có hội chứng màng não với triệu chứng điển hình như đau đầu, nôn vọt, đi lỏng (hoặc táo bón), có dấu hiệu gáy cứng, Kernig, Bruduzinski, vạch màng não... Trẻ dưới 1 tuổi bệnh xảy ra thường đột ngột, các biểu hiện hay gặp là bỏ bú, khóc thét, hoặc ngủ li bì, thóp phồng, dấu hiệu “cổ mềm”. Riêng ở trẻ sơ sinh triệu chứng lâm sàng không điển hình, các biểu hiện hay gặp như bỏ bú, li bì, có thể co giật, suy hô hấp, nhiễm khuẩn huyết. Trẻ sơ sinh cần nghĩ đến viêm màng não mủ khi có các triệu chứng sốt, bú kém, nôn chưa rõ nguyên nhân, đặc biệt khi có nghi ngờ nhiễm khuẩn huyết.

Phương pháp chẩn đoán viêm màng não mủ?

Chẩn đoán căn nguyên viêm màng não mủ dựa vào kết quả nhuộm gram soi kính và nuôi cấy để phát hiện kháng nguyên trong dịch não tủy, trong máu, dịch màng phổi, mủ và nước tiểu. Có thể phát hiện kháng nguyên vỏ của týp b bằng test latex hay tách chiết bằng điện. Thường thấy kết quả xét nghiệm: công thức máu trẻ bị viêm màng não mủ có bạch cầu tăng cao, bạch cầu trung tính chiếm ưu thế; dịch não tủy có áp lực tăng, nước đục (ám khói... hoặc đục như mủ), có số lượng bạch cầu trên 500/ml, bạch cầu trung tính chiếm ưu thế và protein tăng lên 1g/l, glucose giảm dưới 2,2m mol/l. Tuy nhiên, trong trường hợp người bệnh đến khám sớm ngay sau những giờ đầu nhiễm bệnh hoặc người bệnh đã sử dụng kháng sinh để điều trị, thì dấu hiệu dịch não tủy có thể thay đổi không điển hình. Cần chú ý chống chỉ định với thủ thuật chọc dịch não tủy khi có nhiễm khuẩn lan tỏa tại vị trí chọc hoặc có biểu hiện tăng áp lực nội sọ.

Viêm màng não mủ cần phân biệt với viêm màng não hoặc viêm não do virut (có dịch não tủy trong, số lượng bạch cầu thường dưới 500/ml trong đó bạch cầu lympho chiếm ưu thế, protein tăng dưới 1g/l) và viêm màng não do lao (có tiếp xúc nguồn lao, Xquang phổi có tổn thương lao, dịch não tủy hoặc màu vàng chanh, tế bào từ 300-500/ml, protein trên 1g/l. Lưu ý sau 14 ngày điều trị kháng sinh không hiệu quả cần xem xét có viêm màng não do lao hay không.

Khi trẻ bị viêm màng não mủ cần làm gì?

Bệnh viêm màng não mủ cần điều trị sớm bằng liệu pháp kháng sinh dựa vào kháng sinh đồ và điều trị kết hợp với các thuốc chống viêm, chống phù não và chống co giật, đồng thời chú ý chế độ chăm sóc và dinh dưỡng cho người bệnh. Liệu pháp kháng sinh dùng điều trị trong bệnh viêm màng não mủ được điều chỉnh phù hợp theo kết quả nhuộm soi kính, cấy dịch não tủy và diễn biến lâm sàng sau điều trị của từng ca bệnh. Cụ thể:

Khi chưa có kết quả nhuộm gram soi kính và cấy dịch não tủy: Dùng liệu pháp kháng sinh kinh nghiệm:

Trẻ từ 0-4 tuần: ampicilin (200-400mg/kg/24 giờ) + aminoglycosid (amikacin: 15mg/kg/24 giờ) hoặc claforan (200-300mg/kg/24 giờ).

Trẻ từ 4-12 tuần dùng cephalosporin thế hệ 3: cafotaxim 200-300mg/kg/24 giờ; ceftriaxon 100mg/kg/24 giờ.

Trẻ từ 3 tháng – 18 tháng: ampicilin (200-400mg/kg/24 giờ) + chloramphenicol 60-100mg/kg/24 giờ hoặc cephalosporin thế hệ 3.

Chú ý: Chọn cephalosporin thế hệ 3 (claforan, rocephin, fortum...) khi bệnh nhân có dấu hiệu nặng: hôn mê, co giật nhiều, vào viện sau 3 ngày bị bệnh, đã điều trị nhiều kháng sinh và có bệnh toàn thân.

Khi có kết quả nhuộm soi kính: điều chỉnh kháng sinh cho phù hợp với từng loại vi khuẩn.

Khi có kết quả cấy dịch não tủy: Thay đổi kháng sinh theo kháng sinh đồ.

Sau 48-72 giờ điều trị diễn biến lâm sàng không cải thiện: Xét nghiệm lại dịch não tủy để quyết định đổi kháng sinh điều trị thích hợp hơn.

Thời gian điều trị trung bình đối với bệnh viêm màng não mủ dựa vào căn nguyên – tức loại vi khuẩn gây bệnh như: đối với não mô cầu là 7 ngày; H.influenzae từ 7-10 ngày; phế cầu từ 10-14 ngày; trực khuẩn ái khí gram âm là 3 tuần.

Tuy nhiên, thời gian điều trị có thể thay đổi theo mức độ đáp ứng lâm sàng trong quá trình điều trị.

Điều trị kết hợp chống viêm, phù não và phòng co giật và cắt cơn giật trong viêm màng não mủ như sau:

Chống viêm: dexamethasone 0,4mg/kg/ngày dùng trong 4 ngày đầu.

Chống phù não cho bệnh nhân có hôn mê: để nằm đầu cao 30o so với mặt giường, dùng liệu pháp tăng thông khí tốt (thông thoáng đường thở, vỗ rung), truyền tĩnh mạch dung dịch manitol liều: 1-1,5g/kg/lần (cần bù nước điện giải sau mỗi lần truyền).

Phòng co giật: barbituric liều 5-20mg/kg/ngày.

Cắt cơn giật: seduxen 0,1mg/kg pha trong 2ml NaCl 0,9% tiêm tĩnh mạch chậm cho đến khi ngừng giật hoặc thụt hậu môn (cứ 10 phút nhắc lại một lần nếu trẻ vẫn còn co giật, không quá 3 lần).

Chú ý chế độ chăm sóc và dinh dưỡng. Nếu bệnh nhân có hôn mê nên để nằm nghiêng một bên tránh ứ đọng đờm dãi và cho ăn qua sonde.

Người bệnh có thể ra viện nếu được điều trị theo liệu pháp kháng sinh đủ thời gian và hết sốt ít nhất 3 ngày, dịch não tủy trở về bình thường.

Phòng bệnh viêm màng não mủ bằng biện pháp hóa dự phòng và miễn dịch dự phòng. Cụ thể trong trường hợp có dịch viêm màng não mủ ở một cộng đồng trẻ, cần thực hiện hóa dự phòng cho những người tiếp xúc trực tiếp với trẻ bệnh đã được chẩn đoán xác định (người sống cùng trong gia đình, người chăm sóc trẻ bệnh, trong cùng nhà trẻ) theo căn nguyên:

H. influenzae ống rifampicin 20mg/kg/ngày x 4 ngày (trẻ sơ sinh 10mg/kg/ngày), không dùng cho phụ nữ có thai, hoặc tiêm bắp ceftriaxon 125mg/ngày (250mg/ngày) tiêm trong 2 ngày.

Não mô cầu uống rifampicin 10mg/kg/ngày x 2 ngày, hoặc tiêm bắp ceftriaxon 125mg/trẻ em (250mg/người lớn) tiêm 1 lần.

Bệnh viêm màng não có thể phòng ngừa bằng cách miễn dịch dự phòng. Tức là thực hiện tiêm vaccin đặc hiệu chống lây nhiễm vi khuẩn gây bệnh